Kết quả 1 đến 8 của 8
  1. #1
    Thành viên Ban Quản lý Diễn đàn nguyentheanh's Avatar
    Ngày tham gia
    Jul 2007
    Bài viết
    3,423
    Thanks
    2,259
    Thanked 9,168 Times in 1,889 Posts

    Các loại cọc trong xây dựng

    I - Phân loại cọc

    Cọc có nhiều loại để phục vụ cho những công trình khác nhau với nhiệm vụ để gia cố nền đất hoặc truyền tải cho móng.

    Phân loại theo vật liệu:

    - Cọc tre - Cọc gỗ - Cọc bê tông và bê tông cốt thép - Cọc thép -

    Phân loại theo chiều dài cọc:
    - Cọc ngắn chiều dài dưới 6m;
    - Cọc vừa chiều dài khoảng 20-25m;
    - Cọc dài trên 25m có thể tới 50, 60m hoặc hơn nữa.

    Riêng đối với loại cọc bê tông cốt thép thường dùng phổ biến thì còn chia ra các loại cọc: Cọc ống (cọc rỗng), cọc đặc, cọc bê tông cốt thép thường và cọc bê tông cốt thép dự ứng lực.

    Phân loại theo các chế tạo cọc: Cọc bê tông cốt thép đúc sẵn và cọc bê tông cốt thép đổ tại chỗ.

    1. Cọc tre:
    Người ta thường dùng cọc tre để gia cố nền đất, cọc tre chỉ được sử dụng ở vùng đất luôn luôn có nước (ẩm, ướt). Nếu dùng ở vùng đất khô hoặc lúc khô lúc ướt thì cọc tre sẽ rất nhanh chóng bị ải hoặc mục (lúc này lại gây nguy hại cho nền móng).
    Tre dùng làm cọc phải là tre già trên 2 năm tuổi, tre phải tươi và thẳng, đường kính tối thiểu phải trên 6cm (thường từ 8-10m).
    Tre dùng làm cọc thường là tre đực, thị tre dầy 10-15mm hoặc hơn nữa và có chiều dài khoảng 2-3m. Đầu trên cọc tre cưa thẳng cách mắt độ 5cm, đầu dưới cọc cách mắt độ 20cm được vạt nhọn để làm mũi cọc.

    Đóng cọc tre thường dùng vồ gỗ loại cho 1 người hoặc 2 người và mỗi mét vuông đất phải đóng khoảng 25 cọc. Đây là một công việc khkó nhọc, tốn khá nhiều công sức và thời gian. Ở một số nơi đã cải tiến búa máy phá bê tông bằng cách chụp thêm một mũ chụp để đóng cọc tre. Máy nén khí trường hợp này dùng loại có công suất nhỏ, áp lực khi nén khoảng bằng 4-8atm, một máy nén khí có thể dùng đồng thời cho 5-6 máy đóng cọc tre. Phương pháp này thi công nhanh, đỡ vất vả và có thể đóng cọc tre trong hố móng có dưới 20cm nước.

    Trong tập định mức công bố các bạn sử dụng mã hiệu AC.11100 Đóng cọc tre để chiết tính đơn giá, lập dự toán. Tuy nhiên, đây là định mức đóng cọc tre bằng thủ công. Trường hợp đóng cọc tre bằng máy cải tiến như trên chưa có định mức, có lẽ sử dụng đơn giá của công trình tương tự.

    Tài liệu tham khảo: PGS.TS Ngô Văn Quỳ, Các phương pháp thi công xây dựng.
      Trả lời kèm trích dẫn

  2. #2
    Thành viên rất xuất sắc MrHienNo1's Avatar
    Ngày tham gia
    May 2008
    Bài viết
    609
    Thanks
    2
    Thanked 281 Times in 118 Posts

    Arrow Cọc.....

    Ngoài ra còn một số lưu ý về cọc tre như sau:
    - Cọc tre có thể dùng máy ép hoặc đóng. Có thể bịt đầu cọc tre gia cường thêm thép bịt đầu để khi nén ép hoặc đóng không bị vỡ đầu cọc.
    - Sơ đồ ép cọc tre tuân thủ theo quy tắc ép cọc: Từ ngoài vào trong(tức là ép hết lớp ngoài rồi mới tới lớp trong---> cho đến trong cùng).
    - Cọc tre rất tốt nếu ở dưới mực nước ngầm (ông cha ta thường ngâm tre dưới bùn, khi vớt lên đen vàng óng nhưng chống được mối mọt, dùng làm mái nhà ngày xưa hoặc cột nhà tranh)
    - Cọc tre đóng xuống nền đất nào là tốt nhất: nền sét là tốt nhất (theo tôi nghĩ).
    Ai có nhiều cao kiến gì về các loại cọc chia sẻ cho anh em nhé.
      Trả lời kèm trích dẫn

  3. #3
    Thành viên xuất sắc tantuan's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2007
    Bài viết
    386
    Thanks
    42
    Thanked 346 Times in 96 Posts
    Số lượng cọc trên 1 m2 được xác định theo công thức:
    n=(40000(e0 - eyc))/(pi*d^2(1+e0))
    Trong dó: n_ số lượng cọc
    d_ đường kính cọc
    e0_ độ rỗng tự nhiên
    eyc_ độ rỗng yêu cầu
    Từ công thức trên ta thấy:
    * Đất yếu vừa có độ sệt IL = 0,55 ~ 0,60 , cường độ chịu tải thiên nhiên Ro=0,7 ~ 0,9 kG/cm2 đóng 16 cọc cho 1m2.
    * Đất yếu có độ sệt IL = 0,7 ~ 0,8 , cường độ chịu tải thiên nhiên Ro=0,5 ~ 0,7 kG/cm2 đóng 25 cọc cho 1m2.
    * Đất yếu quá có độ sệt IL ? 0,80 , cường độ chịu tải thiên nhiên Ro< 0,5 kG/cm2 đóng 36 cọc cho 1m2.
    (Theo tài liệu của GS.TS Lê Kiều)
    Sửa lần cuối bởi tantuan; 02-10-2008 lúc 05:50 PM.
    ??NH M?NH ?? MANG CH?NG TA ??N V?I NHAU

    Link: CHUY?N THI C?NG C?C KHOAN NH?I D300 - D600

    0914 350055 --------------- 0907 7777 68
      Trả lời kèm trích dẫn

  4. #4
    Thành viên dự bị
    Ngày tham gia
    Sep 2008
    Bài viết
    5
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Anh Thế Anh nói thêm dùm em cách dùng định mức bê tông đúc sẵn cọc, cột và cọc cừ với. Nếu tính dự toán trong xây dựng cầu đường thì dùng định mức đúc cọc nào cho đúng.
      Trả lời kèm trích dẫn

  5. #5
    Thành viên dự bị
    Ngày tham gia
    Oct 2008
    Bài viết
    2
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts
    Bác Thế Anh ơi, E là thành viên mới toe, vừa đăng nhập sáng nay bác a. Bác rành về cọc cạch the bác xem giúp em vụ cọc cát được không bác. Cám ơn bác nhiều lắm.Em đang cần lắm
      Trả lời kèm trích dẫn

  6. #6
    Thành viên dự bị
    Ngày tham gia
    Jun 2008
    Bài viết
    1
    Thanks
    0
    Thanked 0 Times in 0 Posts

    Talking làm thế nào để áp dụng đúng mã hiệu khi lập dự toán đúc cọc

    Trích dẫn Gửi bởi nguyentheanh Xem bài viết
    I - Phân loại cọc

    Cọc có nhiều loại để phục vụ cho những công trình khác nhau với nhiệm vụ để gia cố nền đất hoặc truyền tải cho móng.

    Phân loại theo vật liệu:

    - Cọc tre - Cọc gỗ - Cọc bê tông và bê tông cốt thép - Cọc thép -

    Phân loại theo chiều dài cọc:
    - Cọc ngắn chiều dài dưới 6m;
    - Cọc vừa chiều dài khoảng 20-25m;
    - Cọc dài trên 25m có thể tới 50, 60m hoặc hơn nữa.

    Riêng đối với loại cọc bê tông cốt thép thường dùng phổ biến thì còn chia ra các loại cọc: Cọc ống (cọc rỗng), cọc đặc, cọc bê tông cốt thép thường và cọc bê tông cốt thép dự ứng lực.

    Phân loại theo các chế tạo cọc: Cọc bê tông cốt thép đúc sẵn và cọc bê tông cốt thép đổ tại chỗ.

    1. Cọc tre:
    Người ta thường dùng cọc tre để gia cố nền đất, cọc tre chỉ được sử dụng ở vùng đất luôn luôn có nước (ẩm, ướt). Nếu dùng ở vùng đất khô hoặc lúc khô lúc ướt thì cọc tre sẽ rất nhanh chóng bị ải hoặc mục (lúc này lại gây nguy hại cho nền móng).
    Tre dùng làm cọc phải là tre già trên 2 năm tuổi, tre phải tươi và thẳng, đường kính tối thiểu phải trên 6cm (thường từ 8-10m).
    Tre dùng làm cọc thường là tre đực, thị tre dầy 10-15mm hoặc hơn nữa và có chiều dài khoảng 2-3m. Đầu trên cọc tre cưa thẳng cách mắt độ 5cm, đầu dưới cọc cách mắt độ 20cm được vạt nhọn để làm mũi cọc.

    Đóng cọc tre thường dùng vồ gỗ loại cho 1 người hoặc 2 người và mỗi mét vuông đất phải đóng khoảng 25 cọc. Đây là một công việc khkó nhọc, tốn khá nhiều công sức và thời gian. Ở một số nơi đã cải tiến búa máy phá bê tông bằng cách chụp thêm một mũ chụp để đóng cọc tre. Máy nén khí trường hợp này dùng loại có công suất nhỏ, áp lực khi nén khoảng bằng 4-8atm, một máy nén khí có thể dùng đồng thời cho 5-6 máy đóng cọc tre. Phương pháp này thi công nhanh, đỡ vất vả và có thể đóng cọc tre trong hố móng có dưới 20cm nước.

    Trong tập định mức công bố các bạn sử dụng mã hiệu AC.11100 Đóng cọc tre để chiết tính đơn giá, lập dự toán. Tuy nhiên, đây là định mức đóng cọc tre bằng thủ công. Trường hợp đóng cọc tre bằng máy cải tiến như trên chưa có định mức, có lẽ sử dụng đơn giá của công trình tương tự.

    Tài liệu tham khảo: PGS.TS Ngô Văn Quỳ, Các phương pháp thi công xây dựng.
    Xin chào anh Thế Anh !
    hiện nay để tính được dự toán chi phí đơn giá Đúc cọc bê tông theo như bộ đơn giá vừa phát hành thì công tác đúc cọc có 02 cách tính :
    1) Mã hiệu: AG 11112 ~ 11115 - SX bê tông cọc, cột đúc sẳn đá 1x2 M150 ~ M300.
    2) Mã hiệu: AG 11122 ~ 11125 - SX bê tông cọc cừ đúc sẳn đá 1x2 M150 ~ M300.
    Vậy Tôi xin anh có ý kiến hướng dẫn, tư vấn giúp cho Tôi nên áp dụng mã đơn giá nào cho phù hợp với công việc đúc cọc bê tông 350 x 350 - L = 23m, (tổ hợp làm 2 đoạn) M350.
    Tôi cùng các đồng nghiệp mong được anh giải thích cho biết cách phân biệt như thế nào là SX bê tông cọc, cột đúc sẳn và khác biệt so với SX bê tông cọc cừ đúc sẳn.
    Xin Cám ơn
      Trả lời kèm trích dẫn

  7. #7
    Thành viên xuất sắc tantuan's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2007
    Bài viết
    386
    Thanks
    42
    Thanked 346 Times in 96 Posts

    CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP gia cố nền đất yếu

    Tóm tắt: Phương pháp gia cố nền đất yếu bằng cọc cát – xi măng – vôi là một phương pháp mới được áp dụng có hiệu quả trong một số công trình xây dựng. Tuy nhiên, để có thể áp dụng rộng rãi phương pháp này ở các quy mô xây dựng nhỏ và lớn cần phải xây dựng một cơ sở phương pháp luận chắc chắn cho phương pháp này. Điều cơ bản là phải dựa trên sự phân tích cơ chế và các quá trình hoá lý khi gia cố nền đất của công trình, như là: quá trình nén chặt cơ học, quá trình cố kết, quá trình gia tăng cường độ của cọc và đất nền, cũng như các nguyên tắc đo đạc sức chịu tải và biến dạng của nền đất sau gia cố.
    ĐẶT VẤN ĐỀ

    Nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, các khu công nghiệp tập trung, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, khu đô thị mới … đang được xây dựng với tốc độ ngày càng lớn. Các công trình xây dựng thường tập trung ở những nơi có điều kiện kinh tế, giao thông thuận lợi nhưng lại bất lợi về điều kiện địa chất công trình. Tại đây, cấu trúc nền thường rất phức tạp, gồm nhiều lớp đất yếu, có chiều dày lớn, phân bố ngay trên mặt. Khi xây dựng các công trình có quy mô, tải trọng vừa và nhỏ, việc lựa chọn giải pháp nền móng thường gặp nhiều khó khăn. Khó khăn là ở chỗ, chọn giải pháp cọc bê tông cốt thép thì giá thành cao, chọn giải pháp gia cố nền bằng cọc tre và cọc tràm thì cơ sở lý thuyết không rõ ràng, chiều sâu gia cố hạn chế, thi công bằng phương pháp thủ công nên tiến độ chậm, hiệu quả kinh tế không cao. Vì vậy, nghiên cứu giải pháp gia cố nền móng thích hợp cho các công trình có quy mô, tải trọng vừa và nhỏ xây dựng trên nền đất yếu là nhu cầu cấp bách và thiết thực.

    Một vài năm gần đây, ở một số địa phương đã mạnh dạn áp dụng phương pháp gia cố nền đất yếu bằng cọc cát - xi măng - vôi phục vụ xây dựng các công trình có quy mô vừa và nhỏ [Tạ Đức Thịnh và nnk, 2001. Báo cáo nghiên cứu xử lý nền đất yếu bằng cọc cát - xi măng - vôi. Lưu trữ Đại học Mỏ - Địa chất]. Đây là phương pháp mới, phát huy được những ưu điểm của phương pháp gia cố bằng cọc cát, cọc đất - xi măng, đất - vôi, tận dụng được nguồn nguyên liệu tại chỗ, phù hợp với điều kiện Việt Nam nên làm giảm giá thành công trình, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Tuy nhiên, việc áp dụng rộng rãi phương pháp này vẫn còn bị hạn chế, một phần là do chưa xây dựng được cơ sở lý thuyết và thực nghiệm vững chắc, phần khác là do công nghệ thi công còn lạc hậu. Do đó, bài toán đặt ra là phải xây dựng được cơ sở lý thuyết cho phương pháp, tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm để kiểm chứng và hoàn thiện công nghệ thi công. Công việc này đňi hỏi nhiều thời gian, công sức và kinh phí của nhiều tổ chức, nhiều cá nhân cùng tham gia. Có như vậy, giải pháp gia cố nền đất yếu bằng cọc cát - xi măng - vôi mới có thể được áp dụng rộng rãi trong thực tế xây dựng, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

    CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG PHÁP gia cố nền đất yếu BẰNG
    cọc cát - xi măng - VÔI

    Cũng như các phương pháp cải tạo, gia cố nền đất yếu khác, phương pháp gia cố nền đất yếu bằng cọc cát - xi măng - vôi nhằm thay đổi tính chất cơ lý của đất theo hướng nâng cao sức chịu tải, giảm biến dạng của nền. Vấn đề là cần làm sáng tỏ cơ chế của quá trình gia tăng cường độ của đất, xác định các quá trình nào sẽ xảy ra trong đất khi gia cố nền bằng cọc cát - xi măng - vôi. Làm sáng tỏ cơ chế của những quá trình cơ học và hoá lý xảy ra trong đất, hoàn thiện phương pháp tính toán nền chính là đã xây dựng được cơ sở lý thuyết của phương pháp.

    Trên cơ sở phân tích lý thuyết các phương pháp gia cố nền bằng cọc cát, cọc đất - xi măng, đất - vôi có thể nhận thấy, khi gia cố nền đất yếu bằng cọc cát - xi măng - vôi, trong nền đất sẽ diễn ra các quá trình cơ học và hoá lý sau đây:

    1. Quá trình nén chặt cơ học

    Gia cố nền bằng cọc cát - xi măng - vôi là dùng thiết bị chuyên dụng đưa một lượng vật liệu vào nền đất dưới dạng cọc hỗn hợp cát - xi măng - vôi. Lượng vật liệu cát, xi măng và vôi này sẽ chiếm chỗ các lỗ hổng trong đất làm cho độ lỗ rỗng giảm đi, các hạt đất sắp xếp lại, kết quả là đất nền được nén chặt. Xét một khối đất có thể tích ban đầu Vo , thể tích hạt rắn Vho , thể tích lỗ rỗng ban đầu Vro, ta có:

    Vo = Vho + Vro (1)

    Sau khi gia cố, thể tích khối đất sẽ là V, thể tích hạt rắn là Vh, thể tích lỗ rỗng Vr :

    V = Vh + Vr (2)

    Như vậy, sự thay đổi thể tích khối đất là:

    D V = Vo – V (3)

    = (Vho + Vro) - (Vh + Vr)

    Thể tích các hạt rắn được coi như không đổi trong quá trình gia cố, nghĩa là Vho = Vh , do đó :

    D V = Vro - Vr

    D V = D Vr (4)

    Biểu thức (4) cho thấy: sự thay đổi thể tích khối đất khi gia cố chính là sự thay đổi thể tích lỗ rỗng trong khối đất.

    Như vậy, khi gia cố nền bằng cọc cát - xi măng - vôi quá trình nén chặt đất sẽ xảy ra tức thời. Hiệu quả nén chặt phụ thuộc vào thể tích vật liệu được đưa vào nền, nghĩa là phụ thuộc vào số lượng, đường kính cũng như khoảng cách giữa các cọc, hình dạng bố trí cọc. Việc xác định đường kính cọc, khoảng cách giữa các cọc và sơ đồ bố trí cọc hoàn toàn có thể xác định như đối với cọc cát. Còn chiều sâu gia cố phụ thuộc vào chiều sâu vùng hoạt động nén ép dưới đáy móng công trình, nghĩa là, tại độ sâu mà ở đó thoả mãn một trong các điều kiện sau đây:

    - ứng suất nén ép (s z ) nhỏ hơn hoặc bằng 0,1 ứng suất bản thân (s bt) của đất.

    - ứng suất nén ép (s z) nhỏ hơn hoặc bằng áp lực bắt đầu cố kết thấm của đất.

    - ứng suất nén ép s z £ 20 – 30 kPa.

    Việc kiểm tra đánh giá định lượng tác dụng nén chặt đất khi gia cố nền bằng cọc cát - xi măng - vôi có thể thực hiện được bằng nhiều phương pháp như khoan lấy mẫu đất trong phạm vi giữa các cọc để xác định hệ số rỗng cũng như khối lượng thể tích của đất sau gia cố hoặc dùng thí nghiệm xuyên tĩnh hay nén tĩnh nền. Các công việc này đơn giản, dễ tiến hành.

    2. Quá trình cố kết thấm

    Ngoài tác dụng nén chặt đất, cọc cát - xi măng - vôi còn có tác dụng làm tăng nhanh quá trình cố kết của đất nền.

    Do cọc cát - xi măng - vôi được đưa vào nền dưới dạng khô nên hỗn hợp cát - xi măng - vôi sẽ hút nước trong đất nền để tạo ra vữa xi măng, sau đó biến thành đá xi măng. Quá trình tạo vữa xi măng làm tổn thất một lượng nước lớn chứa trong lỗ hổng của đất, nghĩa là làm tăng nhanh quá trình cố kết của nền đất. Quá trình này xảy ra ngay sau khi bắt đầu gia cố và kéo dài cho đến khi nền đất được gia cố xong, toàn bộ cọc cát - xi măng - vôi trở thành một loại bê tông . Đây là quá trình biến đổi hoá lý phức tạp, chia làm hai thời kỳ: thời kỳ ninh kết và thời kỳ rắn chắc. Trong thời kỳ ninh kết, vữa xi măng mất dần tính dẻo và đặc dần lại nhưng chưa có cường độ. Trong thời kỳ rắn chắc, chủ yếu xảy ra quá trình thuỷ hoá các thành phần khoáng vật của clinke, gồm silicat tricalcit 3CaO.SiO2, silicat bicalcit 2CaO.SiO2, aluminat tricalcit 3CaO.Al2O3, fero-aluminat tetracalcit 4CaO.Al2O3Fe2O3:

    3CaO.SiO2 + nH2O Þ Ca(OH)2 + 2CaO.SiO2(n-1)H2O.

    2CaO.SiO2 + mH2O Þ 2CaO.SiO2mH2O.

    3CaO.Al2O3 + 6H2O Þ 3CaO.Al2O3.6H2O.

    4CaO.Al2O3Fe2O3 + nH2O Þ 3CaO.Al2O3.6H2O +CaO.Fe2O3.mH2O

    Các sản phẩm chủ yếu được hình thành sau quá trình thuỷ hoá là Ca(OH)2, 3CaO.Al2O3.6H2O, 2CaO.SiO2mH2O và CaO.Fe2O3.mH2O. Quá trình rắn chắc của xi măng có thể chia ra làm 3 giai đoạn :

    a) Giai đoạn hoà tan: các chất Ca(OH)2, 3CaO.Al2O3.6H2O sinh ra sau quá trình thuỷ hoá hoà tan được trong nước sẽ ngay lập tức hoà tan tạo thành thể dịch bao quanh mặt hạt xi măng.

    b) Giai đoạn hoá keo: đến một giới hạn nào đó, lượng các chất Ca(OH)2 , 3CaO.Al2O3.6H2O không hoà tan được nữa sẽ tồn tại ở thể keo. Chất silicat bicalcit (2CaO.SiO2) vốn không hoà tan sẽ tách ra ở dạng phân tán nhỏ trong dung dịch, tạo thành keo phân tán. Lượng keo này ngày càng sinh ra nhiều, làm cho các hạt keo phân tán tương đối nhỏ tụ lại thành những hạt keo lớn hơn ở dạng sệt khiến cho xi măng mất dần tính dẻo và ninh kết lại dần dần nhưng chưa hình thành cường độ.

    c) Giai đoạn kết tinh: các chất Ca(OH)2 , 3CaO.Al2O3.6H2O từ thể ngưng keo chuyển sang dạng kết tinh, các tinh thể nhỏ đan chéo nhau làm cho xi măng bắt đầu có cường độ, chất 2CaO.SiO2mH2O tồn tại ở thể keo rất lâu, sau đó có một phần chuyển thành tinh thể. Do lượng nước ngày càng mất đi, keo dần dần bị khô, kết chặt lại và trở nên rắn chắc.

    Các giai đoạn hoà tan, hoá keo và kết tinh không xảy ra độc lập, mà xảy ra đồng thời với nhau, xen kẽ nhau. Ngoài ra, vôi trong hỗn hợp tạo cọc có tác dụng như chất gắn kết giống như xi măng, đồng thời có khả năng hấp thụ nước lớn và toả nhiệt làm tăng sức kháng cắt của cọc và tăng nhanh quá trình cố kết của đất nền. Quá trình thuỷ hoá vôi kèm theo sự toả nhiệt được biểu diễn bằng phản ứng sau :

    CaO + H2O Þ Ca(OH)2 + 15,5 kcalo

    Cường độ của hỗn hợp tăng lên một phần do phản ứng silicat, một phần do phản ứng carbonat, lượng CaCO3 còn dư trong vôi sẽ trở thành những mầm kết tinh, bao quanh bởi các hạt keo và tinh thể, chúng phát triển và tăng dần cường độ.

    Mặt khác, nếu tỷ lệ phối trộn giữa xi măng, cát và vôi cũng như thành phần hạt của cát hợp lý thì cọc cát - xi măng - vôi sau khi đông cứng vẫn có thể cho nước thoát qua và làm việc tương tự như một giếng thu nước thẳng đứng, giống như cọc cát. Dưới tác dụng của tải trọng ngoài, cùng với thời gian, ứng suất hữu hiệu tăng lên, ứng suất trung tính giảm đi, nước trong lỗ rỗng của đất sẽ thấm theo phương ngang vào cọc rồi sau đó thoát ra ngoài dọc theo chiều dài cọc.

    Bài toán cố kết thấm của nền đất khi gia cố bằng cọc cát - xi măng - vôi cũng giống như bài toán cố kết thấm của nền khi dùng cọc cát và đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Năm 1935, L.Rendulic đã đưa ra phương trình vi phân cố kết đối xứng để xác định trị số áp lực nước lỗ rỗng trong nền và năm 1942, N.Carrillo đã phân bài toán cố kết thấm 3 chiều thành tổng hợp của bài toán cố kết thấm theo chiều thẳng đứng và theo hướng xuyên tâm. K.Terzaghi đã dùng phương pháp giải tích để giải bài toán cố kết thấm theo chiều thẳng đứng, còn R.E.Glover, R.A.Barron đã giải bài toán cố kết thấm theo hướng xuyên tâm. Năm 1948, R.A.Barron đã đưa ra lời giải toàn diện đầu tiên cho bài toán cố kết của trụ đất có chứa một cọc cát (cát - xi măng - vôi) ở giữa.

    Khi trong nền có các cọc cát - xi măng - vôi, chiều dài đường thấm theo phương ngang sẽ nhỏ hơn nhiều lần chiều dài đường thấm theo phương đứng, do đó có thể coi vai trò thoát nước theo phương ngang của cọc cát - xi măng - vôi là chủ yếu. Tuy vậy, trong tính toán quá trình cố kết của nền đất gia cố vẫn thường xác định độ cố kết toàn phần (kết quả tổng hợp của quá trình thoát nước theo phương ngang và theo phương đứng) bằng định đề Carrillo:

    P = 1 - (1 - Ph)(1 - Pv)

    trong đó :

    P : độ cố kết toàn phần của đất

    Ph : độ cố kết trung bình của đất theo phương ngang

    Pv : độ cố kết trung bình của đất theo phương đứng

    Hệ số thấm của cọc cát - xi măng - vôi ảnh hưởng nhiều đến quá trình cố kết của nền đất. Theo nhiều nghiên cứu, khi hệ số thấm ngang của nền đất kh < 1.10-7 cm/s hoặc hệ số cố kết theo phương ngang Ch < 1.10-4 m2/ng.đ thì tác dụng cố kết của nền đất sẽ bị hạn chế. Để đảm bảo cọc cát - xi măng - vôi làm việc tốt trong quá trình cố kết thì hệ số thấm của vật liệu cọc cần lấy > 2¸ 3 m/ng.đ. Muốn vậy, cần chế tạo mẫu chế bị với các tỷ lệ xi măng, cát và vôi khác nhau và tiến hành thí nghiệm mẫu xác định hệ số thấm. Để đánh giá định lượng quá trình cố kết của nền đất khi gia cố bằng cọc cát - xi măng - vôi có thể đặt các thiết bị đo áp lực nước lỗ rỗng tại các thời điểm trước, sau khi gia cố và trong thời gian sử dụng công trình.

    3. Quá trình gia tăng cường độ của cọc gia cố và sức kháng cắt của đất nền

    Khi gia cố nền đất yếu bằng cọc cát, sức kháng cắt của cọc cát dưới tác dụng của tải trọng ngoài xác định theo định luật Coulomb t = s tgj , với j là góc ma sát trong của cát. Khi trộn thêm xi măng và vôi vào cát, do hình thành liên kết xi măng - vôi trong cọc nên khả năng chịu lực nén và lực cắt của cọc gia cố tăng lên đáng kể. Lúc đó, sức kháng cắt của cọc cát - xi măng - vôi xác định theo biểu thức t = s tgj + Cxm , với Cxm là lực dính được tạo nên bởi liên kết xi măng - vôi. Giá trị Cxm có thể xác định được nhờ thí nghiệm cắt các mẫu chế bị ở trong phòng.

    Như vậy, khác với cọc cát, cọc cát - xi măng - vôi có độ bền lớn nhờ lực dính trong hỗn hợp tạo cọc tăng lên. Độ bền của cọc cát - xi măng - vôi phụ thuộc vào lực dính trong liên kết xi măng - vôi, nghĩa là phụ thuộc vào hàm lượng xi măng và vôi trong hỗn hợp tạo cọc.

    Mặt khác, khi trộn xi măng, vôi vào trong cát và đưa vật liệu vào nền đất, ở mặt tiếp xúc giữa cọc và đất nền sẽ xảy ra quá trình trao đổi ion và phản ứng puzolan. Các ion calci hoá trị 2 thay thế các ion natri và hydro hoá trị 1 ở trong lớp điện kép bao quanh mỗi hạt khoáng vật sét. Vì cần ít hơn calci hoá trị 2 để trung hoà lưới điện âm trên mặt của mỗi khoáng vật sét nên giảm được kích thước của lớp điện kép và do đó làm tăng lực hút của các hạt sét, dẫn đến lực dính của đất tăng lên. Hơn nữa, silic và nhôm trong khoáng vật sét sẽ phản ứng với silicat calci và hydrat nhôm calci trong phản ứng puzolan, tạo ra các hợp chất có độ bền cao và rất bền trong môi trường nước. Những quá trình này làm tăng lực ma sát và lực dính của đất xung quanh cọc gia cố, dẫn đến làm gia tăng cường độ của đất nền.

    Cần phải nhấn mạnh rằng, tất cả các quá trình nén chặt cơ học, quá trình cố kết, quá trình gia tăng cường độ của cọc và đất nền khi gia cố bằng cọc cát - xi măng - vôi đều có liên hệ hữu cơ với nhau. Các quá trình này không độc lập với nhau mà diễn ra đồng thời với nhau, là động lực thúc đẩy phát triển của nhau.
    ??NH M?NH ?? MANG CH?NG TA ??N V?I NHAU

    Link: CHUY?N THI C?NG C?C KHOAN NH?I D300 - D600

    0914 350055 --------------- 0907 7777 68
      Trả lời kèm trích dẫn

  8. #8
    Thành viên xuất sắc tantuan's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2007
    Bài viết
    386
    Thanks
    42
    Thanked 346 Times in 96 Posts
    tt

    4. Tính toán sức chịu tải và biến dạng của nền đất sau gia cố

    Hiện nay, việc tính toán sức chịu tải và biến dạng của nền gia cố bằng cọc cát - xi măng - vôi đang còn là vấn đề tranh cãi. Một số nhà khoa học kiến nghị tính toán như đối với cọc cứng, số khác lại đề nghị tính toán như đối với nền thiên nhiên, có tác giả lại đề nghị tính toán sức chịu tải như đối với cọc cứng, còn biến dạng thì tính toán theo nền. Sở dĩ còn nhiều những quan điểm trái ngược nhau là vì bản thân vấn đề rất phức tạp, cần phải có nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm làm sáng tỏ vai trò mang tải của cọc, của đất nền xung quanh cọc, nghĩa là xem cọc và nền cùng đồng thời làm việc. Theo chúng tôi, vấn đề sẽ đơn giản hơn nhiều nếu quan niệm nền đất yếu đã được gia cố là một nền mới, có tính chất cơ lý mới. Rõ ràng là, trước khi gia cố, nền thiên nhiên là một nền đất yếu với các tính chất cơ lý không đáp ứng được yêu cầu xây dựng. Sau khi gia cố, các chỉ tiêu cơ lý đã thay đổi một cách đáng kể như độ ẩm, hệ số rỗng giảm, khối lượng thể tích, lực dính, góc ma sát trong tăng nhờ các quá trình nén chặt cơ học, cố kết và tác dụng của các phản ứng hoá lý giữa xi măng, vôi và đất nền trong quá trình gia cố. Vì vậy, việc tính toán sức chịu tải và độ lún của nền sau gia cố có thể tính như đối với nền thiên nhiên. Tuy nhiên, cần phân biệt hai trường hợp là trường hợp thi công nhanh và trường hợp thi công chậm.

    a. Trường hợp thi công chậm:

    Khi gia cố nền, tức là đã tác dụng một tải trọng ngoài vào nền đất (tải trọng đó là khối lượng vật liệu cát - xi măng - vôi đưa vào nền) gây ra quá trình nén chặt cơ học (do thể tích vật liệu cát - xi măng - vôi chiếm chỗ thể tích lỗ rỗng trong đất), quá trình cố kết của đất nền (do hút nước làm đông cứng vữa xi măng, thoát nước do áp lực hữu hiệu tăng, áp lực nước lỗ rỗng giảm) và các phản ứng hoá lý của xi măng, vôi với môi trường đất yếu. Các quá trình này xảy ra đồng thời ngay sau khi bắt đầu gia cố nền nhưng kết thúc vào các thời điểm khác nhau. Quá trình nén chặt cơ học sẽ kết thúc ngay sau khi hoàn thành gia cố. Quá trình cố kết của đất nền và tác dụng hoá lý của xi măng, vôi với đất nền sẽ kết thúc muộn hơn và sau bao lâu sẽ kết thúc thì cần phải có nghiên cứu chi tiết. Do vậy, nếu sau khi gia cố một thời gian, khi mà quá trình cố kết và các phản ứng hoá lý của môi trường đã kết thúc, mới xây dựng công trình thì rõ ràng là, nền đất gia cố đã trở thành một nền mới, ứng suất trong nền gia cố đã được phân bố lại, tính chất cơ lý của nền đã thay đổi với các giá trị mới.

    b. Trường hợp thi công nhanh:

    Trường hợp thi công nhanh, nghĩa là, sau khi quá trình gia cố nền kết thúc thì tiến hành xây dựng công trình ngay. Lúc này, chỉ có quá trình nén chặt cơ học là kết thúc, còn quá trình cố kết và các phản ứng hoá lý của môi trường vẫn tiếp diễn. Tuy nhiên, quá trình nén chặt cơ học mới là chủ yếu, mà quá trình này thì đã kết thúc ngay sau khi gia cố. Do vậy, việc tính toán nền, theo chúng tôi, vẫn có thể tiến hành như đối với trường hợp thi công chậm, nhưng có lưu ý đến tác dụng của quá trình cố kết và phản ứng hoá lý của môi trường còn chưa kết thúc, bằng cách đưa thêm vào áp lực gây lún một trị số nào đó của "áp lực gia cố" do trọng lượng vật liệu cát - xi măng - vôi gây ra. Trị số này có thể ước tính bằng 1/2 "áp lực gia cố". Một số nhà chuyên môn có thể thắc mắc, khi tính như vậy thì khối lượng cát - xi măng - vôi đưa vào nền mất đi đâu ? Tại sao lại không đưa toàn bộ tải trọng này vào giá trị áp lực gây lún của công trình mà lại chỉ đưa vào một giá trị nào đó ? Thực ra, việc đưa thêm vào trị số áp lực gây lún một giá trị bằng 1/2 "áp lực gia cố" cũng chỉ mang tính quy ước dựa vào các phân tích cơ sở phương pháp luận của vấn đề.

    Chúng tôi cho rằng, khối lượng cát - xi măng - vôi đưa vào nền có thể coi là một tải trọng ngoài. Dưới tác dụng của tải trọng này, trong nền đất sẽ xuất hiện ứng suất phụ thêm s z gây biến dạng nền (cả theo phương dọc và phương ngang). Trị số của ứng suất phụ thêm bằng :

    s z = s + U

    trong đó, s - ứng suất hữu hiệu do hạt đất tiếp thu

    U - ứng suất trung tính do nước tiếp thu

    Cùng với thời gian, ứng suất hữu hiệu tăng lên, ứng suất trung tính giảm đi, nhưng ở bất kỳ thời điểm nào trong nền đất vẫn tồn tại mối tương quan trên. Trong trường hợp thi công chậm, các quá trình nén chặt cơ học, cố kết và phản ứng hoá lý giữa xi măng và môi trường đã kết thúc. Khi đó toàn bộ tải trọng ngoài (lượng cát - xi măng - vôi) do hạt đất tiếp thu (s z = s ), ứng suất trung tính bị triệt tiêu (U=0), biến dạng nền đạt trị số ổn định, nền được nén chặt hoàn toàn, trở thành một nền mới. Trong trường hợp thi công nhanh, chỉ quá trình nén chặt cơ học là kết thúc, còn quá trình cố kết và các phản ứng hoá lý giữa xi măng, vôi và nền chưa kết thúc, nền đất chỉ biến dạng một phần, phần còn lại vẫn tiếp tục diễn ra cùng với quá trình nén lún do tải trọng công trình xây dựng. Như vậy, có thể quy ước, một nửa lượng cát - xi măng - vôi đã truyền cho hạt đất làm nền bị biến dạng, tương ứng với quá trình nén chặt cơ học đã kết thúc; còn một nửa lượng cát - xi măng - vôi sẽ vẫn tiếp tục gây ra biến dạng nền, tương ứng với quá trình cố kết và tác dụng hoá lý giữa xi măng, vôi và đất nền. Do đó, khi tính lún công trình cần thêm vào trị số áp lực gây lún một giá trị bằng một nửa khối lượng cát - xi măng - vôi đưa vào nền.

    Với quan niệm như vậy, độ lún của nền sau gia cố có thể được tính bằng phương pháp cộng lún từng lớp theo công thức :

    trong đó: n - số lớp đất phân chia trong chiều sâu chịu nén của công trình

    s i - ứng suất trung bình phụ thêm ở giữa lớp đất phân tố thứ i

    hi - chiều dày lớp phân tố thứ i

    b - hệ số không thứ nguyên, phụ thuộc vào hệ nở hông của đất

    E0i - môđun tổng biến dạng của lớp đất thứ i, xác định bằng bàn nén ở hiện trường.

    Cũng có thể tính độ lún theo công thức:

    trong đó : Cc - chỉ số nén của đất, xác định theo đường cong nén lún trong hệ toạ độ bán logarit

    h - chiều dày lớp đất tính lún

    e 0 - hệ số rỗng ban đầu của đất

    s 0 - áp lực nén ban đầu của dất do trọng lượng bản thân của đất gây ra

    D s - áp lực do tải trọng ngoài tác dụng lên lớp tính lún.

    KẾT LUẬN

    Từ những vấn đề đã trình bày ở trên có thể khẳng định rằng, hoàn toàn có thể xây dựng được cơ sở phương pháp luận của phương pháp gia cố nền đất yếu bằng cọc cát - xi măng - vôi. Các cơ sở này là các quá trình nén chặt cơ học, quá trình cố kết, quá trình gia tăng cường độ của cọc và của đất nền khi gia cố cũng như nguyên lý tính toán sức chịu tải và biến dạng của nền sau gia cố. Nếu các cơ sở lý thuyết này được minh hoạ và kiểm chứng bằng các số liệu nghiên cứu thực nghiệm đầy đủ thì phương pháp gia cố nền đất yếu bằng cọc cát - xi măng - vôi có thể được áp dụng rộng rãi trong xây dựng các công trình có quy mô, tải trọng vừa và nhỏ, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

    VĂN LIỆU


    1. Bergado D. T., Chai J. C., Alfaro M. C., Balasubramanian A. S., 1994. Những biện pháp kĩ thuật mới cải tạo đất yếu trong xây dựng. Nxb Giáo dục, Hà Nội.

    2. Hoàng Văn Tân, Trần Đěnh Ngô và nnk, 1973. Những phương pháp xây dựng công trình trên nền đất yếu. Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.

    3. Nguyễn Trấp, Nguyễn Mạnh Dân, Nguyễn Hồng Sinh, Phạm Quy Hảo, Nguyễn Anh Dũng, 1985. gia cố nền đất yếu bằng các phương pháp cọc đất - vôi, đất - xi măng và cốt thoát nước chế tạo sẵn. Chương trình ứng dụng tiến bộ KHKT 26-03-03-07. Viện KHKT Xây dựng, Hà Nội.

    TẠ ĐỨC THỊNH 1, VŨ THIẾT HÙNG 2

    1 Đại học Mỏ - Địa chất, Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội
    2 Viện nghiên cứu Địa chất và khoáng sản, Thanh Xuân, Hà Nội
    ??NH M?NH ?? MANG CH?NG TA ??N V?I NHAU

    Link: CHUY?N THI C?NG C?C KHOAN NH?I D300 - D600

    0914 350055 --------------- 0907 7777 68
      Trả lời kèm trích dẫn

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •  

© Cty Giá xây dựng - GP của Cục Báo chí - Bộ TT&TT số 323/GP-CBC ngày 11/07/2008.
Người chịu trách nhiệm chính: Ths. Nguyễn Thế Anh.
Ghi rõ nguồn khi phát hành thông tin, tài liệu từ giaxaydung.vn
Powered by vBulletin| Copyright © 2000-2009 Jelsoft Enterprises Limited.

Địa chỉ: Toà nhà số 2A/55, Nguyễn Ngọc Nại, Thanh Xuân, Hà Nội
Tel: 04.3 5682482, Fax: 04.3 5682483
Email: theanh@giaxaydung.com
Theo giờ GMT +8. Bây giờ là 08:50 AM.