Trang 1 của 2 1 2 CuốiCuối
Kết quả 1 đến 10 của 17
  1. #1
    Thành viên mới
    Ngày tham gia
    Oct 2007
    Bài viết
    12
    Thanks
    0
    Thanked 14 Times in 4 Posts

    Thưởng phạt hợp đồng

    Các bạn của diễn đàn thân mến. Tôi có vấn đề này muốn các bạn giải đáp giùm.
    Theo Luật Thương mại thì thưởng và phạt vi phạm hợp đồng không quá 8%, còn theo hướng dẫn tại THÔNG TƯ CỦA BỘ XÂY DỰNG SỐ 06/2007/TT-BXD NGÀY 25 THÁNG 07 NĂM 2007 HƯỚNG DẪN HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG thì mức thưởng phát không quá 12%
    Như thế TT này không phù hợp với luật ah?
    Nếu trong hợp đồng CĐT và Nhà thầu thỏa thuận tỷ lệ thưởng phạt cao hơn các mức trên thì có được không?
      Trả lời kèm trích dẫn

  2. #2
    Thành viên ưu tú daodinhdung's Avatar
    Ngày tham gia
    Apr 2009
    Bài viết
    275
    Thanks
    28
    Thanked 200 Times in 51 Posts
    Trích dẫn Gửi bởi thang_zh Xem bài viết
    Các bạn của diễn đàn thân mến. Tôi có vấn đề này muốn các bạn giải đáp giùm.
    Theo Luật Thương mại thì thưởng và phạt vi phạm hợp đồng không quá 8%, còn theo hướng dẫn tại THÔNG TƯ CỦA BỘ XÂY DỰNG SỐ 06/2007/TT-BXD NGÀY 25 THÁNG 07 NĂM 2007 HƯỚNG DẪN HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG thì mức thưởng phát không quá 12%
    Như thế TT này không phù hợp với luật ah?
    Nếu trong hợp đồng CĐT và Nhà thầu thỏa thuận tỷ lệ thưởng phạt cao hơn các mức trên thì có được không?
    - Các hợp đồng kinh tế về thương mại thì thực hiện theo luật Thương mại
    - Các hợp đồng Xây lắp thì thực hiện theo luật xây dựng
    Mình thấy như vậy cũng phù hợp với luật thôi
    + Trong hợp đồng CĐT và Nhà thầu thỏa thuận tỷ lệ thưởng phạt cao hơn các mức trên:
    - trường hợp Nhà thầu được thưởng thì nguồn kinh phí chênh lệch (>12%) lấy ở đâu! Chắc là ít CĐT làm vậy.
    Các Bác cho ý kiến thêm nhé!
    Sửa lần cuối bởi daodinhdung; 23-09-2009 lúc 10:20 PM.
    C?ng ty c? ph?n t? v?n x?y d?ng 929
      Trả lời kèm trích dẫn

  3. #3
    Thành viên rất nhiệt tình DLSS's Avatar
    Ngày tham gia
    May 2009
    Bài viết
    222
    Thanks
    79
    Thanked 299 Times in 119 Posts
    Trích dẫn Gửi bởi thang_zh Xem bài viết
    Nếu trong hợp đồng CĐT và Nhà thầu thỏa thuận tỷ lệ thưởng phạt cao hơn các mức trên thì có được không?
    Không hiểu hợp đồng của bạn dùng nguồn vốn nào? Nhà nước, tư nhân, ODA?

    Thông tư 06-2007 của BXD chỉ bắt buộc cho các nguồn vốn nhà nước. Vì thế nếu dự án của bạn là vốn nhà nước thì bạn phải theo giới hạn 12% theo thông tư 06. Nhưng mà thực tế thì tôi chưa thấy công trình nào bị phạt do chậm tiến đô hoặc thưởng do vượt tiến độ. Có một trường hợp hi hữu mà tôi thấy phạt chậm tiến độ nhưng đáng buồn là nhà thầu nước ngoài phạt chủ đầu tư VN do chậm giải phóng mặt bằng. Đó là dự án đường 5 cũ mà nhà thầu Nhật Bản phạt ngược lại chủ đầu tư.

    Nếu vốn tư nhân hoặc nước ngoài thì tùy bạn quy định. TT 06 không áp dụng cho những dự án đó, chỉ khuyến khích dùng. Thực tế thì tôi đã thấy một dự án vốn nước ngoài không thưởng cho vượt tiến độ nhưng phạt không giới hạn nếu chậm.

    Sau khi bạn soạn xong hợp đồng thì quay lại đây thông báo cho mọi người xem bên bạn quy định thế nào nhé.

    Cost Management | Project Management | Legal Support Services | Feasibility Studies
      Trả lời kèm trích dẫn

  4. #4
    Thành viên xuất sắc td.bitexco's Avatar
    Ngày tham gia
    Jul 2007
    Bài viết
    453
    Thanks
    0
    Thanked 40 Times in 28 Posts

    Luật đặc thù

    Trích dẫn Gửi bởi thang_zh Xem bài viết
    Các bạn của diễn đàn thân mến. Tôi có vấn đề này muốn các bạn giải đáp giùm.
    Theo Luật Thương mại thì thưởng và phạt vi phạm hợp đồng không quá 8%, còn theo hướng dẫn tại THÔNG TƯ CỦA BỘ XÂY DỰNG SỐ 06/2007/TT-BXD NGÀY 25 THÁNG 07 NĂM 2007 HƯỚNG DẪN HỢP ĐỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG thì mức thưởng phát không quá 12%
    Như thế TT này không phù hợp với luật ah?
    Nếu trong hợp đồng CĐT và Nhà thầu thỏa thuận tỷ lệ thưởng phạt cao hơn các mức trên thì có được không?
    Theo tôi được biết thì Luật thương mại áp dụng chung cho tất cả các hoạt động thương mại nói chung cho toàn xã hội, Luật xây dựng thì áp dụng riêng cho lĩnh vực xây dựng mà thôi (bạn có thể tham khảo thêm thế nào là Bộ luật và thế nào là luật chõ rõ nghĩa áp dụng). Nếu đã có quy định cho ngãnh nghề đặc thù thì phải áp dụng cho ngành đó và trong trường hợp bạn nêu thì TT06 không có gì là không phù hợp với Luật Thương mại.

    Để đơn giản và dễ hiểu mình lấy ví dụ à ai cũng từng biết khi tham gia giao thông là nếu có sự chỉ dẫn khác nhau giữa tín hiệu giao thông và người điều khiển giao thông thì phải tuân thủ theo chỉ dẫn của người điều khiển giao thông, nếu có đèn đỏ mà các chú công an vẫn cho phép đi để tránh ách tắc giao thông thì vẫn đi được. Đó là mang tính thời điểm và tình huống cụ thể, cá biệt cũng như Luật XD là trường hợp riêng nên cũng có điểm khác với quy định của Luật Thương Mại.

    Hiện tại thì BXD đang dự thảo NĐ hướng dẫn hợp đồng trong XD, bạn có thể tìm đọc, trong nay mai việc thỏa thuận giữa CĐT và nhà thầu là mang tính pháp lý cao nhất và hoàn toàn mang tính "riêng", tự làm tự chịu và mọi hướng dẫn của NN chỉ mang tính mở, tạo quyền chủ động tối đa cho các bên.
    ??ng h? th?p gi? tr? c?a m?nh b?ng c?ch so s?nh b?n th?n m?nh v?i ng??i kh?c.
    M?i ch?ng ta l? m?t con ng??i kh?c nhau v? ??u c? nh?ng gi? tr? kh?c nhau.
      Trả lời kèm trích dẫn

  5. #5
    Thành viên mới
    Ngày tham gia
    Sep 2007
    Bài viết
    45
    Thanks
    1
    Thanked 10 Times in 6 Posts
    LUẬT XÂY DỰNG
    Ðiều 2. Ðối tượng áp dụng
    Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng công trình và hoạt động xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam.

    Ðiều 110. Thưởng hợp đồng, phạt vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng trong hoạt động xây dựng
    1. Việc thưởng hợp đồng, phạt vi phạm hợp đồng phải được ghi trong hợp đồng.
    2. Ðối với công trình xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước, mức thưởng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng làm lợi, mức phạt không vượt quá 12% giá trị hợp đồng bị vi phạm. Nguồn tiền thưởng được trích từ phần lợi nhuận do việc sớm đưa công trình bảo đảm chất lượng vào sử dụng, khai thác hoặc từ việc tiết kiệm hợp lý các khoản chi phí để thực hiện hợp đồng.
      Trả lời kèm trích dẫn

  6. #6
    Thành viên rất nhiệt tình DLSS's Avatar
    Ngày tham gia
    May 2009
    Bài viết
    222
    Thanks
    79
    Thanked 299 Times in 119 Posts
    Trích dẫn Gửi bởi LE ANH TUAN Xem bài viết
    LUẬT XÂY DỰNG
    Ðiều 2. Ðối tượng áp dụng Luật này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng công trình và hoạt động xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam.

    Ðiều 110. Thưởng hợp đồng, phạt vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng trong hoạt động xây dựng

    2. Ðối với công trình xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước, mức thưởng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng làm lợi, mức phạt không vượt quá 12% giá trị hợp đồng bị vi phạm. Nguồn tiền thưởng được trích từ phần lợi nhuận do việc sớm đưa công trình bảo đảm chất lượng vào sử dụng, khai thác hoặc từ việc tiết kiệm hợp lý các khoản chi phí để thực hiện hợp đồng.
    Điều 2 áp dụng cho mọi tổ chức và cá nhân hoạt động xây dựng tại VN mà điều 110 lại chỉ quy định thưởng phạt cho công trinh xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước? Thông tư 06 của BXD cũng "bỏ qua" luôn công trình tư nhân và công trình có vốn đầu tư nước ngoài??? Vậy cái gì pháp luật không cấm thì được làm. Nhưng tôi băn khoăn không hiểu nếu cứ làm những điều pháp luật không cấm thì điều gì sẽ xảy ra trong lĩnh vực xây dựng???


    Trích dẫn Gửi bởi td.bitexco Xem bài viết
    Hiện tại thì BXD đang dự thảo NĐ hướng dẫn hợp đồng trong XD, bạn có thể tìm đọc, trong nay mai việc thỏa thuận giữa CĐT và nhà thầu là mang tính pháp lý cao nhất và hoàn toàn mang tính "riêng", tự làm tự chịu và mọi hướng dẫn của NN chỉ mang tính mở, tạo quyền chủ động tối đa cho các bên.
    Cá nhân tôi thì không đồng ý điều này. Thỏa thuận giữa CĐT và NT phải trong khuôn khổ pháp luật. Nếu hợp đồng có điều khoản trái với luật thì khi tranh chấp phải căn cứ vào luật trước rồi mới đến hợp đồng.

    VD theo hợp đồng thì nhà thầu có quyền yêu cầu CĐT phải cung cấp các tài liệu xác nhận CĐT đã bố trí đủ vốn cho công trình trước khi NT thi công. Thực tế, qui định này có thể bị xóa trong hợp đồng với lý do công trình vốn ngân sách, chính đại diện CĐT/CĐT cũng không biết rõ bao giờ có vốn đầy đủ.(1) Nếu hợp đồng mang tính pháp lý cao hơn luật thì mặc dù NT nghi ngờ CĐT không đủ năng lực tài chính nhưng không thể không ký hợp đồng vì đã nộp bão lãnh dự thầu vô điều kiện. Nếu luật cao hơn hợp đồng thì NT có thể căn cứ vào luật để không ký hợp đồng thi công.

    Về chủ trương NĐ mang tính mở, không có tính bắt buộc không biết là ý kiến của riêng bạn hay của BXD? Soạn hồ sơ mời thầu trong XD bao giờ cũng là CĐT. NT đã bỏ giá rồi thì rất khó thỏa thuận lại hợp đồng vì CĐT sẽ lập luận giá bỏ thầu phải tuân theo các đk mời thầu, mà hồ sơ mời thầu sẽ là hợp đồng trong tương lai. Do đó không thể có chuyện tạo quyền chủ động tối đa cho các bên mà sẽ là tạo quyền chủ động tối đa cho CĐT.

    So sánh các dự án VN với nước ngoài tại VN thôi thì tôi thấy 1 dự án, CĐT dự án đó ghi rõ trong hồ sơ mời thầu nếu thanh toán chậm cho NT khi NT đã nộp đủ hồ sơ hợp lệ thì CĐT sẽ tự động trả lãi cho NT kể cả khi NT không yêu cầu. Không biết bao giờ những quy định tương tự như thế mới được đưa vào luật hoặc NĐ?

    -----------

    (1) Hà Nội thiếu vốn lớn cho các công trình trọng điểm

    http://vietbao.vn/Kinh-te/Ha-Noi-thieu-von-lon-cho-cac-cong-trinh-trong-diem/55060661/88/


    Sửa lần cuối bởi DLSS; 17-10-2009 lúc 10:23 AM.

    Cost Management | Project Management | Legal Support Services | Feasibility Studies
      Trả lời kèm trích dẫn

  7. #7
    Thành viên rất nhiệt tình PVN's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2007
    Bài viết
    155
    Thanks
    0
    Thanked 13 Times in 11 Posts
    Mình ủng hộ bạn DLSS là thỏa thuận hợp đồng phải tuân thủ luật pháp (kg được làm những điều mà Pháp luật cấm). Bây giờ thử xem luật viết thế nào nhé?

    Luật Thương mại (áp dụng cho mọi hoạt động sinh lợi, kể cả xây dựng)
    Điều 301. Mức phạt vi phạm
    Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 [Kết quả giám định sai] của Luật này.
    Luật Xây dựng (áp dụng cho hoạt động xây dựng):
    Ðiều 110. Thưởng hợp đồng, phạt vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng trong hoạt động xây dựng
    2. Ðối với công trình xây dựng bằng nguồn vốn nhà nước, mức thưởng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng làm lợi, mức phạt không vượt quá 12% giá trị hợp đồng bị vi phạm.
    "Không được", "không quá" nghĩa là cấm rồi. Hợp đồng xây dựng có mục đích sinh lợi phải tuân thủ cả 2 luật (Thuật ngữ pháp lý gọi luật như Luật thương mại là "Luật chung", còn Luật xây dựng là "Luật chuyên ngành"). Như vậy, phạt không quá 8%, và vốn nhà nước không quá 12%. Nếu 8% < Phạt < 12% thì chỉ tuân thủ Luật xây dựng mà vi phạm Luật thương mại, nên không được.

    Nhưng các bạn lưu ý cái tích tắc này nhé: 8% là % của "giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm", còn 12% là % của "giá trị hợp đồng bị vi phạm". Trong hầu hết trường hợp, "giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm" bằng hoặc nhỏ hơn "giá trị hợp đồng bị vi phạm", nên 8% "giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm" vẫn thường có giá trị nhỏ hơn.

    Như vậy ý kiến của mình là: Không quá 8% "giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm". Nhưng dù sao vẫn nên để ý cả 2 luật khi soạn hợp đồng.

    Tại sao có sự thiếu nhất quán này?
    Các bạn lưu ý Luật XD ban hành năm 2003, còn Luật thương mại 2005, tức là có sự đổi mới rồi.
    Sửa lần cuối bởi PVN; 05-11-2009 lúc 06:28 PM.
    K? s? b?t d?c v?t thi ? nh?n
      Trả lời kèm trích dẫn

  8. #8
    Thành viên rất nhiệt tình DLSS's Avatar
    Ngày tham gia
    May 2009
    Bài viết
    222
    Thanks
    79
    Thanked 299 Times in 119 Posts
    Bạn PVN đưa ra một tình huống rất hay là hợp đồng thỏa mãn luật xây dựng nhưng vi phạm luật thương mại. Theo mình cần làm rõ mấy vấn đề sau

    - Luật TM là luật chung và luật XD là luật chuyên ngành được định nghĩa ở đâu? Nếu luật TM là luật chung thì luật dân sự gọi là gì? Mình đưa luật dân sự vào vì có thể xảy ra mâu thuẫn với luật TM nhưng phù hợp với luật dân sự chẳng hạn.

    - Điều khoản nào trong luật nào quy định hợp đồng xây dựng phải tuân thủ cả luật thương mại?


    Giờ tớ sẽ bàn xem hợp đồng xây dựng có nằm trong điều tiết của luật TM không? Tớ đi lần lượt từng định nghĩa trong luật TM.

    Thương mại là gì? Điều 3 luật TM: Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ,đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Mình cho là những gì sinh lợi mà không nằm trong các khoản “bao gồm” ở trên sẽ không coi là hoạt động thương mại. Từ thương mại theo định nghĩa từ điển tiếng Việt:ngành kinh tế thực hiện việc lưu thông hàng hoá bằng mua bán,(1) hiểu nôm na là mua bán.


    Tiếp theo phải tìm hiểu xem hoạt động xây dựng có phải là cung ứng dịch vu không? Định nghĩa về cung ứng dịch vụ trong điều 3 (Giải thích từ ngữ) khoản 9:là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Theo định nghĩa này thì chỉ có hợp đồng giữa CĐT và tư vấn có thể coi là cung ứng dịch vụ, còn hợp đồng giữa CĐT và nhà thầu không coi là cung ứng dịch vụ.

    Nếu XD không phải là cung ứng dịch vụ thì có phải là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi không? Theo tớ có sinh lợi nhưng không phải là hoạt động mua bán.

    Khi hoạt động XD không áp dụng theo luật thương mại thì áp dụng theo luật nào? Câu hỏi này được trả lời trong điều 4 luật TM ((Áp dụng Luật thương mại và pháp luật có liên quan), khoản 2 : Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó. Vậy hoạt động XD đã được quy định trong luật XD thì áp dụng quy định của luật XD.

    -----

    (1) http://tratu.vn/dict/vn_vn/Th%C6%B0%C6%A1ng_m%E1%BA%A1i
    Sửa lần cuối bởi DLSS; 16-11-2009 lúc 11:26 PM.

    Cost Management | Project Management | Legal Support Services | Feasibility Studies
      Trả lời kèm trích dẫn

  9. #9
    Thành viên rất nhiệt tình PVN's Avatar
    Ngày tham gia
    Aug 2007
    Bài viết
    155
    Thanks
    0
    Thanked 13 Times in 11 Posts
    Mình kg dám tranh luận sâu vì mình kg phải là luật sư, cũng có thể là mình nói kg sát thực tế văn bản (cơm gạo áo tiền cũng làm cho kiến thức rơi rụng nhiều nữa ), nhưng nguyên tắc luật thì hầu như áp dụng được cho mọi trường hợp. Chỉ xin trích một số dẫn chứng để các bạn tham khảo tự quyết định cho riêng mình:

    1) Phạm vi áp dụng giữa các luật: Đây là quá trình tranh cãi cũng lâu rồi (rất lâu trước khi ban hành Luật thương mại 2005), nhưng bạn DLSS chỉ trích khoản 2, điều 4 mà bỏ qua khoản 1 "Hoạt động thương mại phải tuân theo Luật thương mại và pháp luật có liên quan".

    2) Khái niệm thương mại: Cũng vẫn là chuyện tranh cãi ở trên, nhưng để phù hợp với thông lệ quốc tế khi gia nhập WTO thì Luật thương mại đã mở rộng rất nhiều, kg còn giới hạn trong 14 hành vi thương mại như Luật 1997 nữa mà bao gồm "hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác". Do có "các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác", nên bất cứ cái gì nhằm sinh lợi (cứ có "purpose of profit") đều coi là thương mại hết (khác với hành vi phi lợi nhuận).

    3) Xung đột luật (conflict of laws): Mình kg làm trong ngành luật nên kg biết tình hình thực tiễn xung đột luật bây giờ ở VN thế nào rồi, nhưng mà ngyên tắc ưu tiên "luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng so với luật chung khi có xung đột luật" là nguyên tắc mà tất cả cử nhân luật, luật sư, thẩm phán trên thế giới đều học và rất có thể sẽ áp dụng trong quá trình xét xử, dù kg quy định trong luật. Theo mình trường hợp nêu trên về tỷ lệ phạt vẫn chưa phải là một "xung đột luật", mà chỉ là "thừa" thôi.

    Cái này thì hơi đi sâu vào luật một chút: Các bạn lưu ý là ngoài luật thành văn, còn có áp dụng tương tự pháp luật và áp dụng pháp luật tương tự, rồi nguyên tắc luật, án lệ, hàng tỉ thứ nữa. Cho nên luật sư có cửa sống là vì vậy, còn ai cũng đọc văn bản rồi thực hiện thì luật sư nhăn răng? Và các bạn cũng thừa hiểu luật chỉ có mấy trang, làm sao bao quát hết cuộc sống muôn màu muôn vẻ.

    4) Để các bạn dễ thấy mình xin trích một bài báo trên báo Người đại biểu (tiếng nói của quốc hội):
    http://www.nguoidaibieu.com.vn/Trang...4/Default.aspx

    Cần xác định chính xác tính chất của các hợp đồng trong hoạt động xây dựng
    24/07/2008
    Pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực xây dựng bao gồm Luật Xây dựng, các văn bản hướng dẫn thi hành và các văn bản có liên quan khác. Một trong những lĩnh vực mà pháp luật về xây dựng đề cập đến là lĩnh vực hợp đồng trong hoạt động xây dựng. Tuy nhiên, việc xác định tính chất của các hợp đồng trong hoạt động xây dựng theo văn bản hiện hành chưa thật sự chuẩn xác.

    Theo quy định của Thông tư số 06/2007/TT-BXD ngày 25.7.2007 của Bộ Xây dựng hướng dẫn về hợp đồng trong hoạt động xây dựng, thì Hợp đồng trong hoạt động xây dựng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ, nghĩa vụ của các bên để thực hiện một, một số hay toàn bộ công việc trong hoạt động xây dựng. Hợp đồng trong hoạt động xây dựng bao gồm: Hợp đồng tư vấn xây dựng; Hợp đồng cung ứng vật tư, thiết bị xây dựng; Hợp đồng thi công xây dựng; Hợp đồng thiết kế- cung ứng vật tư, thiết bị- thi công xây dựng; Hợp đồng chìa khoá trao tay. Theo quy định, các loại hợp đồng trên được xác định là hợp đồng dân sự. Theo chúng tôi, việc xác định tính chất của hợp đồng trong hoạt động xây dựng là hợp đồng dân sự là chưa chuẩn xác. Bởi, chưa phân biệt được từng chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng và mục đích mà các bên hướng tới trong quan hệ hợp đồng để xác định tính chất của hợp đồng là hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại.
    Việc xác định tính chất của hợp đồng là dân sự hay thương mại dựa vào 2 yếu tố: thứ nhất là chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng, thứ hai là mục đích của hợp đồng. Chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng có thể là cá nhân, tổ chức; trong chủ thể là tổ chức có thể là tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc tổ chức không có tư cách pháp nhân; mục đích của các chủ thể hướng tới trong quan hệ hợp đồng có thể là mục đích lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận. Dựa vào sự kết hợp của hai yếu tố này có thể xác định hợp đồng là hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại, để từ đó áp dụng pháp luật về nội dung để điều chỉnh cho phù hợp.
    Pháp luật Việt Nam không đưa ra định nghĩa cụ thể về hợp đồng thương mại, mà chỉ đưa ra khái niệm về hợp đồng dân sự, theo đó: Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã quy định gián tiếp thế nào là hợp đồng thương mại. Theo quy định của Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao về hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ nhất của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 thì Toà kinh tế có nhiệm vụ quyền hạn giải quyết tranh chấp và các yêu cầu về kinh doanh, thương mại (tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận); các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà một hoặc các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận. Từ việc xác định thẩm quyền của Toà kinh tế trong việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại như trên có thể gián tiếp hiểu Hợp đồng về kinh doanh, thương mại phải là một trong hai loại: Thứ nhất, chủ thể đều là các bên có đăng ký kinh doanh, mục đích của các bên là hướng tới lợi nhuận; Thứ hai, một trong các bên hoặc cả hai bên không phải là chủ thể có đăng ký kinh doanh, nhưng cả hai bên đều hướng tới mục đích lợi nhuận.
    Nếu rơi vào một trong hai trường hợp nêu trên, thì hợp đồng sẽ được xác định là hợp đồng thương mại, và sẽ do Toà kinh tế giải quyết. Do vậy, việc Thông tư 06/2007/TT-BXD của Bộ Xây dựng xác định hợp đồng trong hoạt động xây dựng là hợp đồng dân sự là chưa bao quát được các trường hợp. Đối chiếu với các quy định hiện hành, thì hợp đồng trong hoạt động dân sự có thể là hợp đồng dân sự, nếu một trong các bên chủ thể không phải là chủ thể có đăng ký kinh doanh, và chỉ một bên hướng tới mục đích lợi nhuận (Ví dụ: Một cơ quan nhà nước ký hợp đồng với một công ty xây dựng về xây dựng nhà làm việc của cơ quan đó, trong trường hợp này tính chất của hợp đồng là hợp đồng dân sự, vì chỉ có bên công ty xây dựng mới hướng tới mục đích lợi nhuận, đồng thời chỉ có công ty xây dựng mới là chủ thể có đăng ký kinh doanh); là hợp đồng thương mại, nếu hai bên đều là chủ thể có đăng ký kinh doanh hoặc một trong hai bên không phải là chủ thể có đăng ký kinh doanh, nhưng cả hai bên đều hướng tới mục đích lợi nhuận (Ví dụ: Công ty xây dựng A ký hợp đồng cung ứng vật tư xây dựng cho công ty xây dựng B, trong trường hợp này cả hai bên đều là chủ thể có đăng ký kinh doanh và mục đích của hai bên đều hướng tới lợi nhuận, do vậy đây là hợp đồng thuộc lĩnh vực kinh doanh, thương mại).
    Theo chúng tôi, Bộ Xây dựng cần phải sửa đổi Thông tư 06/2007/TT-BXD phần quy định về tính chất của hợp đồng trong hoạt động xây dựng theo hướng: quy định tính chất của hợp đồng trong hoạt động xây dựng là hợp đồng dân sự hoặc thương mại, bằng cách xác định rõ, cụ thể trường hợp nào được coi là hợp đồng dân sự, trường hợp nào được coi là hợp đồng thương mại. Các trường hợp này, Bộ Xây dựng cần nghiên cứu quy định của pháp luật có liên quan điều chỉnh lĩnh vực hợp đồng, để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật và phù hợp với tính chất của từng loại quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động xây dựng.
    Mình thấy hình như trong văn bản mới Chính phủ/Bộ Xây dựng đã sửa sai bằng cách xóa chữ "Hợp đồng xây dựng là hợp đòng dân sự". Kg biết nghị định mới về HĐ xây dựng đã ban hành chưa?
    K? s? b?t d?c v?t thi ? nh?n
      Trả lời kèm trích dẫn

  10. #10
    Thành viên rất nhiệt tình
    Ngày tham gia
    Oct 2008
    Bài viết
    241
    Thanks
    0
    Thanked 6 Times in 6 Posts
    Nhân đây toi xin trình bày với các bạn một số vấn đề như sau:
    - Hợp đồng xây dựng, thương mại, mua bán.... đều gọi là hợp đồng dân sự.
    - Luật dân sự là bộ luật nội dung các luật khác như luật xây dựng, thương mại, đấu thầu.... đều là luật hình thức, các luật hình thức không được trái với luật nội dung.
    - Bộ luật dân sự đã quy định về hợp đồng và nội dung hợp đồng, trên cơ sở đó luật cũng đưa các nguyên tắc cơ bản khi giao kết hợp đồng, mặc dù luật dân sự đã mở rộng cho các bên giao kết có quyền tối thượng đó là: tự thỏa thuận giữa các bên, song bên cạnh đó luật cũng đưa ra nguyên tắc bất di bất dịch đó là : các thỏa thuận không được trái pháp luật.
    Quay lại nội dung phần trên: khi các bên ký hợp đồng thương mại nếu các bên thỏa thuận thưởng phạt hợp đồng đến 12% có nghĩa thỏa thuận này trái với quy định của luật thương mại.
    + Như vậy các bên giao kết hợp đồng đã vi phạm nguyên tắc quy định của bộ luật dân sự, có nghĩa là đối chiếu với chương quy định về hợp đồng vô hiệu thì loại hợp đồng như các bạn nêu trên là hợp đồng dân sự vô hiệu một phần ( không thể là vô hiệu toàn phần).
    Lý luận trên đây là dựa vào căn cứ pháp lý để phân tích, còn thực tế có thể xẩy ra những chuyện như:
    - Thưởng hợp đồng thường mại đến 10 % hoặc hơn.
    - Phạt hợp đồng TM 10% hoặc hơn.
    Nếu giao dịch thưởng phạt này được thực hiện và không có tranh chấp thì mọi người tưởng rằng mình làm như vậy là đúng; nhưng nếu có tranh chấp xẩy ra, hoặc kiểm toán nhảy vào xem xét hồ sơ quyết toán thì nhất quyết Kiểm toán không chấp nhận viẹc bộ phận tài chính xuất 10 hay 12% thưởng cho đối tác khi đó là hợp đồng thương mại.
    Do vậy về góc đọ pháp lý chúng ta ai cũng đã thấy luật quy định loại Hợp đồng nào đến 8% loại nào đến 12% thì cưa nên nghiêm túc thực hiện để tránh những hành vi vô tình của mình vi phạm pháp luật.
      Trả lời kèm trích dẫn

Trang 1 của 2 1 2 CuốiCuối

Quyền viết bài

  • Bạn không thể đăng chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài
  •  

© Cty Giá xây dựng - GP của Cục Báo chí - Bộ TT&TT số 323/GP-CBC ngày 11/07/2008.
Người chịu trách nhiệm chính: Ths. Nguyễn Thế Anh.
Ghi rõ nguồn khi phát hành thông tin, tài liệu từ giaxaydung.vn
Powered by vBulletin| Copyright © 2000-2009 Jelsoft Enterprises Limited.

Địa chỉ: Toà nhà số 2A/55, Nguyễn Ngọc Nại, Thanh Xuân, Hà Nội
Tel: 04.3 5682482, Fax: 04.3 5682483
Email: theanh@giaxaydung.com
Theo giờ GMT +8. Bây giờ là 01:10 AM.