PDA

Xem bản đầy đủ : Hỏi về việc bãi bỏ các đơn giá địa phương đã ban hành



sxddienbien
13-10-2007, 10:31 AM
Mình xin hỏi diễn đàn:
Theo quy định trong TT05: "Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở Xây dựng căn cứ vào hướng dẫn của Thông tư này và tình hình cụ thể của địa phương để công bố hệ thống đơn giá xây dựng, giá ca máy và thiết bị thi công xây dựng, giá vật liệu,... để tham khảo trong quá trình xác định giá xây dựng công trình." Tuy nhiên:
- Vậy đối với các đơn giá địa phương mà UBND tỉnh đã ban hành thì bây giờ giải quyết ra sao? ai ra quyết định bãi bỏ? Nếu UBND tỉnh ra văn bản bãi bỏ thì họ đồng thời công bố đơn giá (nếu vẫn còn cho áp dụng) mới là hợp lý.
- Về giá vật liệu tại địa phương hiện nay Bộ TC chưa bãi bỏ Thông tư 38, vậy ai sẽ là người công bố giá vật liệu ở địa phương? (theo TT 05 là giao cho sở Xây dựng).
Rất mong các bạn trong diễn đàn thảo luận và cho ý kiến về vấn đề đang rất lúng túng trên ở các địa phương.

AAmylove
13-10-2007, 11:26 AM
Mình xin hỏi diễn đàn:
Theo quy định trong TT05: "Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở Xây dựng căn cứ vào hướng dẫn của Thông tư này và tình hình cụ thể của địa phương để công bố hệ thống đơn giá xây dựng, giá ca máy và thiết bị thi công xây dựng, giá vật liệu,... để tham khảo trong quá trình xác định giá xây dựng công trình." Tuy nhiên:
- Vậy đối với các đơn giá địa phương mà UBND tỉnh đã ban hành thì bây giờ giải quyết ra sao? ai ra quyết định bãi bỏ? Nếu UBND tỉnh ra văn bản bãi bỏ thì họ đồng thời công bố đơn giá (nếu vẫn còn cho áp dụng) mới là hợp lý.
- Về giá vật liệu tại địa phương hiện nay Bộ TC chưa bãi bỏ Thông tư 38, vậy ai sẽ là người công bố giá vật liệu ở địa phương? (theo TT 05 là giao cho sở Xây dựng).
Rất mong các bạn trong diễn đàn thảo luận và cho ý kiến về vấn đề đang rất lúng túng trên ở các địa phương.


Thực hiện nghị định 99/2007/NĐ-CP và Thông tư 05/2007/TT-BXDLại khó khăn trong lập dự toán, đấu thầu và quản lý chi phí XDCB

Định mức là định mức nào?
Định mức, đơn giá trong xây dựng là để quản lý và kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng công trình. Theo tinh thần của NĐ 99, thì Nhà nước không quy định định mức nữa. NĐ 99, Điều 13 “Lập và quản lý định mức xây dựng”, Khoản 3 ghi rõ: “Bộ xây dựng hướng dẫn phương pháp lập định mức xây dựng, xây dựng và công bố định mức xây dựng”.
Theo ông Võ Hoàng Anh, chuyên gia lập dự toán - Tổng công ty Tư vấn thiết kế GTVT (TEDI) thì: “NĐ 99 nói như vậy, các chuyên gia lập dự toán đều hiểu rằng định mức do Bộ Xây dựng lập này chỉ có tính chất tham khảo. “công bố” không phải là “quy định”, không có tính chất bắt buộc phải áp dụng ”.
Các nội dung tiếp đó của Điều 13 cho thấy rõ thêm rằng định mức của Bộ Xây dựng công bố rõ ràng chỉ có tính chất tham khảo và có thể được điều chỉnh bởi rất nhiều đối tượng: các Bộ, các UBND cấp tỉnh, Chủ đầu tư, Nhà thầu, Tổ chức tư vấn: “Căn cứ phương pháp lập định mức xây dựng theo quy định tại khoản 1 điều này, các Bộ, UBND cấp tỉnh tổ chức xây dựng, công bố các định mức xây dựng cho các công trình, công việc đặc thù của ngành, địa phương” (khoản 2); “Đối với công tác xây dựng đã có trong định mức xây dựng được công bố nhưng chưa phù hợp với biện pháp, điều kiện thi công hoặc yêu cầu kĩ thuật của công trình, thì chủ đầu tư, nhà thầu, tổ chức tư vấn điều chỉnh những định mức đó cho phù hợp để áp dụng cho công trình” (khoản 3) v.v...
Theo các chuyên gia, quản lý định mức như NĐ 99 ban hành làm thay đổi hẳn phương thức quản lý định mức xây dựng hiện nay. Song điều đó hoàn toàn không làm cho cách quản lý này giống như cách quản lý định mức xây dựng ở các nước phát triển. Nếu nghiên cứu Định mức xây dựng ở một số quốc gia tiên tiến sẽ thấy chúng được thể hiện đơn giản, không quá phức tạp nhưng lại rất khoa học và chi tiết, đảm bảo đầy đủ cơ sở để lập dự toán phù hợp các loại hình công trình cụ thể, bằng việc sử dụng các hàm, công thức, các bảng tra từ định mức cơ bản, rất thuận tiện trong sử dụng.
Loạn đơn giá, giá vật liệu, nhân công
NĐ 99, điều 14, khoản 2 ghi rõ: “Hệ thống giá xây dựng công trình dùng để xác định chi phí xây dựng công trình trong tổng mức đầu tư và dự toán công trình”. Tiếp đó, điều 15, khoản 1, là: “đơn giá xây dựng công trình được lập trên cơ sở định mức kinh tế kĩ thuật và các yếu tố chi phí sau đây: a, Giá vật liệu xây dựng xác định trên cơ sở giá thị trường do tổ chức có chức năng cung cấp, báo giá của nhà sản xuất, thông tin giá của nhà cung cấp hoặc giá đã được áp dụng cho công trình khác có tiêu chuẩn chất lượng tương tự; b, Giá nhân công xây dựng được xác định theo mặt bằng thị trường lao động phổ biến của khu vực, tỉnh, theo từng ngành nghề sử dụng. Giá nhân công xây dựng được tính toán căn cứ theo mức tiền lương tối thiểu được Nhà nước công bố; khả năng nguồn vốn, khả năng chi trả của chủ đầu tư và các yêu cầu khác”.</SPAN>
Như vậy, có rất nhiều căn cứ xây dựng đơn giá vật liệu và nhân công và sẽ có nhiều đơn giá rất khác nhau. Chưa kể mỗi tư vấn khi quyết định sử dụng một căn cứ nào cũng chẳng có gì để chứng minh rằng tại sao là căn cứ này, mà không phải là căn cứ kia. Giá nhân công, yêu cầu “theo mặt bằng thị trường lao động”, rồi lại căn cứ theo “khả năng nguồn vốn, khả năng chi trả của chủ đầu tư” - là rất có thể mâu thuẫn nhau trên thực tế.
Tinh thần “cởi mở” này của NĐ99, sẽ khiến công tác lựa chọn, phân tích, quản lý giá vật liệu và nhân công, trên thực tế, là hết sức khó khăn, phức tạp do không có chuẩn mực nào.
Nhiều bất cập khác
Hiện nhiều nhà thầu cũng đang “kêu trời” vì không biết bỏ thầu thế nào, do những bất cập của NĐ 99 và TT 05. Ví dụ: chi phí huy động, di chuyển thiết bị và lực lượng lao động lại không nằm trong chi phí xây dựng công trình (phần huy động, chuẩn bị công trường), mà nằm ở “chi phí khác”, nên rất bất cập khi xác định giá cho từng công trình hay gói thầu trong dự án; Quy định chi phí đảm bảo giao thông phục vụ thi công quy định nằm ở “chi phí khác” cũng gặp vướng mắc, khi trong thực tế, do phương án đảm bảo giao thông phụ thuộc vào biện pháp tổ chức xây dựng cho từng công trình cụ thể. Công tác này phải do nhà thầu thực hiện và chi phí đưa vào từng gói thầu, như vậy mới phù hợp.
Nhiều nội dung khác cũng khiến 2 văn bản mới rất khó áp dụng: Ví dụ, NĐ 99 quy định “các chi phí thẩm tra” là thuộc thành phần chi phí Tư vấn. Tuy nhiên TT 05 lại quy định: Chi phí thẩm tra tổng mức đầu tư nằm trong thành phần “chi phí khác”; Chi phí trực tiếp và trực tiếp phí khác quy định tính bằng 1,5%, gồm cả: chi phí bơm nước, vét bùn. Như vậy là rất bất hợp lý với các công trình xây dựng chuyên ngành như giao thông, thủy lợi, bến cảng...;
“Chỉ số giá xây dựng là chỉ tiêu phản ánh mức độ biến động của giá xây dựng công trình theo thời gian và làm cơ sở cho việc xác định tổng mức đầu tư” (NĐ99-điều 17, khoản 2). Tuy nhiên NĐ lại chưa nói rõ thời gian xây dựng công trình tính từ thời điểm nào? Thời điểm thiết kế lập dự toán hay thời điểm bắt đầu khởi công xây dựng?
Theo các cơ quan tư vấn lớn của Bộ GTVT, hiện tại do có quá nhiều bất cập trong NĐ 99 và TT05, nên phần lớn các nội dung vẫn triển khai theo các quy định cũ trước đây của Nghị định 16/2005/NĐ-CP về Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và Luật Xây dựng. Các quy định cũ này tuy có rất nhiều bất cập, nhiều nội dung không thật phù hợp, song nếu theo quy định mới thì không thể kiểm soát được.

Phương Dung

thanhnam_vt
25-02-2009, 03:04 PM
Mình xin hỏi diễn đàn:
Theo quy định trong TT05: "Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo Sở Xây dựng căn cứ vào hướng dẫn của Thông tư này và tình hình cụ thể của địa phương để công bố hệ thống đơn giá xây dựng, giá ca máy và thiết bị thi công xây dựng, giá vật liệu,... để tham khảo trong quá trình xác định giá xây dựng công trình." Tuy nhiên:
- Vậy đối với các đơn giá địa phương mà UBND tỉnh đã ban hành thì bây giờ giải quyết ra sao? ai ra quyết định bãi bỏ? Nếu UBND tỉnh ra văn bản bãi bỏ thì họ đồng thời công bố đơn giá (nếu vẫn còn cho áp dụng) mới là hợp lý.
- Về giá vật liệu tại địa phương hiện nay Bộ TC chưa bãi bỏ Thông tư 38, vậy ai sẽ là người công bố giá vật liệu ở địa phương? (theo TT 05 là giao cho sở Xây dựng).
Rất mong các bạn trong diễn đàn thảo luận và cho ý kiến về vấn đề đang rất lúng túng trên ở các địa phương.

- TT38 bị bãi bỏ bở ND99, TT05 rồi mà.
- Mặc dù ND99, TT05 quy định việc công bố giá VLXD là do SXD nhưng chỉ có 1 số tỉnh, thành phố thực hiện đúng, còn lại đa số vẫn do SXD phối hợp với STC hoặc ngược lại để cùng ra Công bố giá liên sở